Vietnam
1800 234 235
info@vnemart.com.vn

Giáo trình Giáo dục Quốc phòng (học phần 1) – TRỊNH VĂN TÚY TẬP BÀI GIẢNG ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG VÀ AN – StuDocu

Tài liệu mẫu giáo quốc phòng học phần 1
Video Tài liệu mẫu giáo quốc phòng học phần 1

TRỊNH VĂN TÚY

TẬP BÀI GIẢNG

ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG

VÀ AN NINH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

VIỆT NAM

(Dùng cho sinh viên Giáo dục quốc phòng và an ninh)

HÀ NỘI – NĂM 2021

  1. Đặc điểm và những quan điểm nguyên tắc cơ bản xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Chương 5……………………………………………………………………………………………………….
  • XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM……………………
  • ……………………………………………………………………………………………………………………..
    1. Phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong giai đoạn mới……..
  • 5.2. Phương hướng chung:…………………………………………………………………………….
  • 5.2. Phương hướng cụ thể……………………………………………………………………………..
  • Chương 6……………………………………………………………………………………………………….
  • KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI…………………………………………………..
  • VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI……
  • củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở Việt Nam……………………………………….. 6. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường
  • và đối ngoại ở nước ta hiện nay……………………………………………………………………….. 6. Nội dung kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh
  • NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ……………….
  • VIỆT NAM…………………………………………………………………………………………………….
    1. Truyền thống và nghệ thuật đánh giặc của ông cha ta……………………………………
    1. Nghệ thuật quân sự Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo………………………………….
  • 7.3. Bài học kinh nghiệm:………………………………………………………………………………
  • 7.3. Trách nhiệm của sinh viên……………………………………………………………………….
  • TÌNH HÌNH MỚI…………………………………………………………………………………………… XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG
    1. Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới………….
    1. Xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia………………………………………………………
  • Chương 9……………………………………………………………………………………………………..
  • XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG DỰ BỊ…………..
  • ĐỘNG VIÊN VÀ ĐỘNG VIÊN QUỐC PHÒNG……………………………………………..
    1. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ…………………………………………………………..
    1. Xây dựng lực lượng dự bị động viên………………………………………………………….
    1. Động viên Quốc phòng…………………………………………………………………………….
  • 9.3. Khái niệm……………………………………………………………………………………………
  • Chương 10……………………………………………………………………………………………………
  • XÂY DỰNG PHONG TRÀO TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC……….
    1. Nhận thức chung về phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc……………….
    1. Nội dung, biện pháp xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc…
  • ninh Tổ quốc………………………………………………………………………………………………… 10. Trách nhiệm của sinh viên trong việc tham gia xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an
  • Chương 11……………………………………………………………………………………………………
  • NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ AN NINH………………………………………
  • QUỐC GIA VÀ BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI…………………………….
    1. Nhận thức chung về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
    1. Tình hình an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội………………………………….
  • bảo đảm trật tự, an toàn xã hội……………………………………………………………………….. 11. Yếu tố tác động, quan điểm phương châm, nguyên tắc trong bảo vệ an ninh quốc gia và
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………………

BẢNG VIẾT TẮT

Số TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

1 An ninh AN

2 An ninh quốc gia ANQG

3 An ninh nhân dân ANND

4 Bạo loạn lật đổ BLLĐ

5 Bảo vệ Tổ quốc BVTQ

6 Chiến tranh nhân dân CTND

7 Diễn biến hòa bình DBHB

8 Dân quân tự vệ DQTV

9 Giáo dục quốc phòng và an ninh GDQP&AN

10 Mác-Lênin MLN

11 Lực lượng dự bị động viên LLDBĐV

12 Lực lượng vũ trang LLVT

13 Lực lượng vũ trang nhân dân LLVTND

14 Kinh tế – xã hội KT-XH

15 Quốc phòng và an ninh QP&AN

16 Quân đội nhân dân Việt Nam QĐNDVN

17 Quốc phòng toàn dân QPTD

18 Tổ quốc xã hội chủ nghĩa TQXHCN

19 Tư tưởng Hồ Chí Minh TTHCM

20 Trật tự an toàn xã TTATXH

21 Xã hội chủ nghĩa XHCN

Chương 1. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

  1. Mục đích, yêu cầu
  • Nắm vững đối tượng, phương pháp, nội dung nghiên cứu môn học GDQP&AN, góp phần bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

  • Sinh viên xác định trách nhiệm, thái độ đúng trong học tập môn học GDQP&AN, tích cực tham gia xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngay khi đang học tập, rèn luyện trong nhà trường và ở mỗi vị trí công tác tiếp theo.

  1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của môn học bao gồm: Đường lối quốc QP&AN của Đảng cộng sản Việt Nam; công tác quốc GDQP&AN; quân sự chung; kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật.

1.2. Nghiên cứu về đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng cộng sản Việt Nam

Nghiên cứu những quan điểm cơ bản có tính chất lí luận của Đảng về đường lối quân sự, bao gồm: Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại; Những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam; Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia trong tình hình mới; Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên quốc phòng; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Học thuyết MLN, TTHCM về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc. Đó là cơ sở lí luận để chúng ta nghiên các nội dung đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng góp phần hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và lí tưởng cho sinh viên.

1.2. Nghiên cứu về công tác quốc phòng và an ninh

Nghiên cứu vấn đề cơ bản về nhiệm vụ, nội dung công tác quốc phòng, an ninh của Đảng hiện nay, bao gồm: Phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam; một số vấn đề về dân tộc, tôn giáo và đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; Phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Phòng, chống một số loại tội phạm xâm hại danh dự, nhân phẩm của người khác; An toàn thông tin và phòng, chống vi phạm pháp luật trên không gian mạng; An ninh phi truyền thống và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống ở Việt Nam.

Nhà nước quy định nhiệm vụ về quốc phòng, quân sự, an ninh cho các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị cơ sở. Do vậy, nghiên cứu về công tác QP&AN thực chất là nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và an ninh chính trị. Mọi công dân đều có trách nhiệm quán triệt và tham gia công tác quốc phòng, luyện tập quân sự, giữ gìn bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường tiềm lực quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân phòng, chống có hiệu quả chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu vàthực hiện tốt công tác QP&AN để xây dựng lòng tin chiến thắng trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam.

1.2. Nghiên cứu về các nội dung quân sự chung

Nghiên cứu các nội dung cơ bản về các Chế độ sinh hoạt, học tập, công tác trong ngày, trong tuần; Các chế độ nền nếp chính quy, bố trí trật tự nội vụ trong doanh trại; Hiểu biết chung về các quân, binh chủng trong quân đội; Điều lệnh đội ngũ từng người có súng; Điều lệnh đội ngũ đơn vị; Hiểu biết chung về bản đồ địa hình quân sự; Phòng tránh địch tiến công hỏa lực bằng vũ khí công nghệ cao; Ba môn quân sự phối hợp.

1.2. Nghiên cứu về kĩ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật

Nghiên cứu các kiến thức, kĩ năng chiến thuật, kĩ thuật quân sự cần thiết như: Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK; Tính năng, cấu tạo và cách sử dụng một số loại lựu đạn thường dùng. Ném lựu đạn bài 1; Từng người trong chiến đấu tiến công; Từng người trong chiến đấu phòng ngự; Từng người làm nhiệm vụ canh gác (cảnh giới)

Kiến thức về quân sự trong môn học là những kiến thức phổ thông, sinh viên cần quan tâm nghiên cứu đặc điểm, nguyên lí, tác dụng..ểu rõ bản chất các nội dung kĩ thuật, chiến thuật bộ binh; về khả năng sát thương, với các phương pháp phòng tránh đơn giản, hiệu quả. Trên cơ sở đó nghiên cứu thực hành các bài tập sát với thực tế, thành thạo các thao tác kĩ thuật, chiến thuật trong chiến đấu. Đồng thời có thể ứng dụng các kĩ thuật này khi tham gia dân quân, tự vệ theo quy định của pháp luật.

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu môn học GDQP&AN đòi hỏi phải nắm vững phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với đối tượng, phạm vi và tính chất đa dạng của nội dung môn học này.

1.3. Phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp luận chung nhất của việc nghiên cứu GDQP&AN là học thuyết MLN, TTHCM. Trong đó những quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và bảo vệ Tổ quốc là cơ sở phương pháp luận trực tiếp để nghiên cứu đường lối QP&AN của Đảng ta.

Vận dụng học thuyết MLN, TTHCM làm cơ sở phương pháp luận, đòi hỏi mỗi sinh viên phải nắm vững và vận dụng đúng đắn một số quan điểm sau đây:

  • Quan điểm hệ thống: đặt ra yêu cầu nghiên cứu, phát triển các nội dung của GDQP&AN một cách toàn diện, tổng thể, trong mối quan hệ phát triển giữa các bộ phận, các vấn đề củamôn học,giữamôn học giáo dục quốc phòng và anninhvàmôn học khác.

  • Quan điểm lịch sử, logic:Trong nghiên cứu GDQP&AN đòi hỏi phải nhìn thấy sự phát triển của đối tượng, vấn đề nghiên cứu theo thời gian, không gian với những điều

  1. Giới thiệu về môn học giáo dục quốc phòng và an ninh

1.4. Đặc điểm môn học

Là môn học được luật định, thể hiện rõ đường lối giáo dục của Đảng được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước, nhằm giúp sinh viên thực hiện mục tiêu “hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 2. Kế tục và phát huy những kết quả thực hiện Chương trình huấn luyện quân sự phổ thông(1961), Giáo dục quốc phòng (1991), trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới và phù hợp với quy chế giáo dục – đào tạo trình độ đại học, năm 2000 chương trình tiếp tục được sửa đổi, bổ sung; đến năm 2007 triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ về GDQP&AN, Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013 xác định Mục tiêu GDQP&AN là giáo dục cho công dân về kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ QP&AN, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, chương trình môn học GDQP&AN đều có những đổi mới phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và công tác quốc phòng và an ninh trong từng thời kì, gắn kết chặt chẽ các mục tiêu của Giáo dục – Đào tạo với QP&AN.

Có thể bạn quan tâm  Những mob khó tìm nhất trong Minecraft

GDQP&AN là một môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật quân sự và thuộc nhóm các môn học chung; chương trình, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Nội dung bao gồm kiến thức cơ bản về đường lối quốc phòng và an ninh; về truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, về nghệ thuật quân sự Việt Nam; về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lục thù địch đối với cách mạng Việt Nam và kĩ năng quân sự, an ninh cần thiết đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

GDQP&AN góp phần xây dựng, rèn luyện ý thức tổ chức kỉ luật, tác phong khoa học ngay khi sinh viên đang học tập trong nhà trường và khi ra công tác. Giảng dạy và học tập có chất lượng môn học GDQP&AN là góp phần đào tạo cho đất nước một ngũ cán bộ khoa học kĩ thuật, cán bộ quản lí, chuyên môn nghiệp vụ có ý thức, năng lực sẵn sàng tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Viêt Nam xã hội chủ nghĩa trên mọi cương vị công tác.

1.4. Chương trình.

Chương trình GDQP&AN trình độ đại học, ban hành theo Thông tư số 05/2020/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình được xây dựng trên cơ sở phát triển trình độ của các cấp học, bảo đảm liên thông, logic; thống nhất GDQP&AN trình độ cao đẳng, đại học trong một chương trình, với khối lượng kiến thức 8 tín chỉ. Mỗi học phần là những khối kiến thức tương đối độc lập, tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập.

Kết cấu chương trình gồm 3 phần chính:

Phần 1. Quy định chung.

Chương trình GDQP&AN dùng cho sinh viên khối không chuyên ngành GDQP&ANtrình độ đại học, cao đẳng, loại hình đào tạo chính quy; nhằm trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về đường lối quân sự, công tác quốc phòng và an ninh

cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang nhân dân, sẵn sàng tham gia lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên và làm nghĩa vụ quân sự, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chương trình bao gồm 4 học phần, thời lượng 8 tín chỉ.

Phần 2:Nội dung chương trình.

Học phần 1: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng cộng sản Việt Nam: 45 tiết (lý thuyết 37 thảo luận 8).

Học phần 2: Công tác Quốc phòng và an ninh: 30 tiết (lý thuyết 22 thảo luận 8). Học phần 3: Quân sự chung: 30 tiết (lý thuyết 14 thực hành 16). Học phần 4: Kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật: 60 tiết (lý thuyết 04 thực hành 56).

Học phần I: Đường lối quốc phòng và an ninh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Số

TT

Nội dung

Thời gian (tiết) Tổng Số tiết

Lý thuyết

Thảo luận 1 Đốitượng,nhiệmvụ,phươngphápnghiêncứumônhọc 2 2

2

Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinhvềchiếntranh,quânđộivàbảovệTổquốc 422

3

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân bảo vệTổquốcViệtNamxãhộichủnghĩa 44

4

Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa 44 5 Xâydựnglựclượngvũtrangnhândân 4 4

6 Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường quốc phòng,anninhvàđốingoại

4 4

7 Những vấn đề cơ bản về lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam

6 4 2

8 Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc giatrongtìnhhìnhmới

4 4

9 Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viênvàđộngviênquốcphòng

6 4 2

10 XâydựngphongtràotoàndânbảovệanninhTổquốc 4 2 2

11

Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảmtrậttựantoànxãhội 33 Cộng 45 37 8

Học phần II: Công tác quốc phòng và an ninh.

Số

TT

Nội dung

Thời gian (tiết)

Tổng Số tiết

Lý thuyết

Thảo luận

1 KỹthuậtbắnsúngtiểuliênAK 24 2 22

2

Tính năng, cấu tạo và cách sử dụng một số loại lựu đạn thườngdùngémlựuđạnbài 1 8 2 6 3 Từngngườitrongchiếnđấutiếncông 16 16 4 Từngngườitrongchiếnđấuphòngngự 8 8 5 Từngngườilàmnhiệmvụcanhgác(cảnhgiới) 4 4 Cộng 60 4 56

Phần 3:Hướng dẫn thực hiện chương trình. Căn cứ vào quy chế đào tạo hệ thống tín chỉ hiện hành, các nhà trường xây dựng chương trình chi tiết môn học phù hợp với quy trình, tiến trình đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo theo học chế, tín chỉ hay niên chế, học phần.

Thời gian quy định trong chương trình không bao gồm thời gian kiểm tra, thi và tham quan. Các trường bố trí thời gian kiểm tra, thi, tham quan ngoài thời gian quy định trong chương trình, theo quy chế đào tạo hiện hành.

1.4. Cơ sở vật chất thiết bị dạy học

Các cơ sở giáo dục phải đảm bảo đủ thiết bị dậy học tối thiểu môn học GDQP&AN theo quy định. Khi học thực hành các kĩ năng quân sự phải có sân tập, bãi tập, thao trường. Giáo trình GDQP&AN do Trung tâm GDQP&AN Trường ĐHSP Hà Nội 2 ban hành là tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chính thức của giảng viên, sinh viên.

1.4. Tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập

Tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả môn học GDQP&AN theo quy chế giáo dục đào tạo hiện hành.

Sinh viên có đủ số lần kiểm tra cho mỗi học phần theo quy định; mỗi lần kiểm tra đạt từ 5 điểm trở lên và có đủ 80% thời gian có mặt nghe giảng lí thuyết trên lớp và thực hành tại thao trường sẽ được dự thi kết thúc học phần thứ nhất. Mỗi sinh viên phải dự thi đủ các học phần quy định trong chương trình.

  • Đối với hình thức đào tạo theo niên chế:
  • Điểm tổng hợp đánh giá học phần theo thang điểm 10, bao gồm điểm kiểm tra thường xuyên, điểm kiểm tra định kỳ và điểm thi kết thúc học phần. Trong đó, điểm thi kết thúc học phần phải đạt từ 5 trở lên và làm tròn đến một chữ số thập phân.

  • Kết quả học tập môn GDQP&AN là điểm trung bình cộng của điểm các học phần, làm tròn đến một chữ số thập phân.

  • Đối với hình thức đào tạo theo tín chỉ.
  • Điểm học phần là điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần sau khi nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10, làm tròn đến một chữ số thập phân.

  • Kết quả học tập môn học GDQP&AN là điểm trung bình chung tổng các điểm học phần, làm tròn đến một chữ số thập phân; không tính kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh theo điểm chữ.

Sinh viên được cấp chứng chỉGDQP&ANkhi điểm trung bình chung môn học đạt từ 5 điểm trở lên và tại thời điểm cấp chứng chỉ, sinh viên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chứng chỉ Giáo dục quốc phòng và an ninh là một trong những điều kiện để xét tốt nghiệp cao đẳng, đại học.

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN

  1. Trình bày các cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh.

  2. Làm rõ nội dung tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng và an ninh.

xung đột đó. Do đó, các cuộc xung đột vũ trang này hoàn toàn mang tính chất ngẫu nhiên tự phát. Theo đó, Ph.Ăngghen chỉ rõ, khi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất xuất hiện và cùng với nó, là sự ra đời của giai cấp, tầng lớp áp bức bóclột thì chiến tranh ra đời và tồn tại như một điều tất yếu khách quan. Chế độ áp bức bóc lột càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển. Chiến tranh trở thành “bạn đường” của mọi chế độ tư hữu.

Phát triển những luận điểm của Các, Ph.Ăngghen về chiến tranh trong điều kiện lịch sử mới, V. Lênin chỉ rõ thời đại ngày nay còn chủ nghĩa đế quốc thì còn nguy cơ xảy ra chiến tranh, chiến tranh là “bạn đường” của chủ nghĩa đế quốc.

Như vậy, chiến tranh có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp và áp bức bóc lột, chiến tranh không phải là một định mệnh gắn liền với con người và xã hội loài người. Muốn xóa bỏ chiến tranh phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra nó.

2.1.1. Bản chất của chiến tranh

  • Bản chất của chiến tranh là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất của học thuyết MLN về chiến tranh, quân đội. Theo V. Lênin: “Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác’’ 1 (cụ thể là bằng bạo lực). Theo V. Lênin, khi phân tích bản chất chiến tranh chỉ là một hiện tượng lịch sử cụ thể.

  • Theo quan điểm của chủ nghĩa MLN: “Chính trị sự phản ánh tập trung của kinh tế, Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc” 2 , chính trị là sự thống nhất giữa đường lối đối nội và đường lối đối ngoại, trong đó đường lối đối ngoại phụ thuộc vào đường lối đối nội.

Như vậy, chiến tranh chỉ là một thủ đoạn chính trị. Ngược lại, mọi chức năng, nhiệm vụ của chính trị đều được tiếp tục thực hiện trong chiến tranh. Giữa chiến tranh và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó chính trị chi phối và quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến tranh, chính trị chỉ đạo toàn bộ và quyết định toàn bộ hoặc phần lớn tiến trình và kết cục của chiến tranh, chính trị quy định mục tiêuvà điều chỉnh mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang. Chính trị không chỉ kiểm tra toàn bộ quá trình tác chiến, mà còn sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra những nhiệm vụ, những mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở thắng lợi hay thất bại của chiến tranh.

  • Ngược lại, chiến tranh là một bộ phận, một phương tiện chính trị, là một kết quả phản ánh những cố gắng cao nhất của chính trị. Chiến tranh tác động trở lại theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực; hoặc tích cực ở khâu này nhưng lại tiêu cựcở khâu khác. Chiến tranh có thể làm thay đổi đường lối, chính sách, nhiệm vụ cụ thể, thậm chí có thể làm thay đổi cả thành phần của lực lượng lãnh đạo chính trị bên trong các bên tham chiến. Chiến tranh tác động lên chính trị thông qua việc làm thay đổi về chất tình hình xã hội, nó làm phức tạp hóa các mối quan hệ và làm tăng thêm những mâu thuẫn vốn có trong xã hội đối kháng giai cấp. Chiến tranh có thể đẩy nhanh sự chín muồi của cách mạng hoặc làm mất đi tình thế cách mạng. Chiến tranh kiểm tra sức sống của toàn bộ chế độ chính trị xã hội.

  • Trong thời đại ngày nay mặc dù chiến tranh có những thay đổi về phương thức tác chiến, vũ khí trang bị “song bản chất chiến tranh vẫn không có gì thay đổi, chiến tranh vẫn là sự tiếp tục chính trị của các nước và giai cấp nhất định. Đường lối chínhtrị của đất nước và các thế lực thù địch vẫn luôn chứa đựng nguy cơ chiến tranh, đường lối

Có thể bạn quan tâm  Phần mềm lập kế hoạch bài học điện tử tốt nhất cho giáo viên

đó đã quyết định đến mục tiêu chiến tranh, tổ chức biên chế, phương thức tác chiến, vũ khí trang bị” của quân đội do chúng tổ chức ra và nuôi dưỡng.

2.1.1. Tính chất của chiến tranh

Xuất phát từ địa vị lịch sử của các giai cấp đối với sự phát triển của xã hội từmục đích chính trị của chiến tranh. Các Mác, Ăng Ghen đã phân chia chiến tranh thành: chiến 23 tranh tiến bộ và chiến tranh phản động. Chiến tranh tiến bộ bao gồm: những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc chống lại bọn thực dân xâm lược và những cuộc nội chiến của giai cấp bị áp bức bóc lột. Chiến tranh phản động là những cuộc chiến tranh đi xâm lược đất đai, nô dịch các dân tộc khác. Từ đó, các ông xác định thái độ ủng hộ những cuộc chiến tranh tiến bộ, chính nghĩa và phản đối những cuộc chiến tranh phản động, phi nghĩa. Lênin phân loại chiến tranh dựa trên các mâu thuẫn cơ bản của thời đại mới và đã phân chiến tranh thành: chiến tranh cách mạng và chiến tranh phản cách mạng hay còn gọi là: chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Người xác định thái độ là: giai cấp vô sản cần lênán các cuộc chiến tranh phản cách mạnh, phi nghĩa, ủng hộ các cuộc chiến tranh cách mạng, tự vệ chính nghĩa.

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh:

2.1.2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng đắn bản chất, quy luật của chiến tranh và tác động to lớn của nó đến đời sống xã hội.(Dù là chiến tranh chính nghĩa hay chiến tranh phi nghĩa).

Khi nói về bản chất chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã khái quát bằng hình ảnh “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân lao động thuộc địa. Trong hội nghị Véc- xây, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất, bộ mặt thật sự của sự xâm lược thuộc địa và chiến tranh cướp bóc của chủ nghĩa thực dân Pháp, “Người Pháp đã khai hóa văn minh bằng rượu lậu, thuốc phiện”. Nói về mục đích cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định: “Ta chỉ giữ gìn non sông, đất nước của ta. Chỉ chiến đấu cho quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Còn thực dân phản động Pháp thì mong cướp nước ta, mong biến dân ta thành nô lệ” 1

2.1.2. Chủ Tịch Hồ Chí Minh xác định đúng tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích chất chính trị xã hội của chiến tranh xâm lược, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, chỉ ra tính chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta.

Trên cơ sở mục đích chính trị của chiến tranh, Hồ Chí Minh đã xác định tính chất xã hội của chiến tranh, chiến tranh xâm lược là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa.

Kế thừa và phát triển của chủ nghĩa MLN về bạo lực cách mạng, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực, độc lập tự do không thể cầu xin mà có được, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền” 2

1ộ giáo dục và Đào tạo,(2018)Giáo trình giáo dục quốc phòng và an ninh dùng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, tập 1, Nxb Giáo dục 2ộ giáo dục và Đào tạo,(2015) Giáo trình xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia và biển đảo Việt Nam NXB Giáo dục Việt Nam

Như vậy theo Ph.Ăngghen, theo quân đội là một tổ chức của một giao cấp và nhà nước nhất định, là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu nhất, là lực lượng nòng cốt để nhà nước, giai cấp tiến hành chiến tranh và đấu tranh vũ trang.

Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản phát triển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền (chủ nghĩa đế quốc), V. Lênin nhấn mạnh: chức năng cơ bản của quân đội đế quốc là phương tiện quân sự chủ yếu để đạt được mục đích chính trị đối ngoại là tiến hành chiến tranh xâm lược và duy trì truyền thống chính trị của bọn bóc lột đối với nhân dân trong nước.

2.2.1. Nguồn gốc ra đời của quân đội.

Từ khi quân đội xuất hiện đến nay, đã có không ít nhà lý luận đề cập đến nguồn gốc, bản chất của quân đội trên các khía cạnh khác nhau. Nhưng chỉ có chủ nghĩa MLN mới lí giải đúng đắn và khoa học về hiện tượng chính trị xã hội đặc thù này.

Chủ nghĩa MLN đã chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc ra đời của quân đội từ sự phân tích cơ sở kinh tế – xã hội và khẳng định: Quân đội là hiện tượng lịch sử, ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước thống trị bóc lột. Để bảo vệ lợi ích của giao cấp thống trị và đàn áp quần chúng nhân dân lao động, giai cấp thóng trị đã tổ chức ra lượng vũ trang thường trực làm công cụ bạo lực của nhà nước.

Như vậy, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất về sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng là nguồn gốc ra đời của quân đội. Chừng nào còn chế độ tư hữu, còn chế độ áp bức bóc lột thì quân đội vẫn còn tồn tại. Quân độ chỉ mất đi khi giai cấp, nhà nước và những điều kiện sinh ra nó tiêu vong.

2.2.1. Bản chất giai cấp của quân đội.

Khi bàn về bản chất của quân đội, chủ nghĩa MLN khẳng định bản chất quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, sử dụng nó. Bản chất của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội đó. Quân đội do giai cấp, nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng và xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị, quân sự của giai cấp mình. Đó là cơ sở để quân đội trung thành với nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra nó.

Bản chất giai cấp của quân đội không phải tự phát hình thành mà phải trải qua quá trình xây dựng lâu dài và được củng cố liên tục, bản chất giai cấp của quân đội là tương đối ổn định nhưng không phải là bất biến. sự vận động phát triển bản chất giai cấp của quân đội bị chi phối bởi nhiều yếu tố như: giai cấp, nhà nước, các lực lượng, tổ chức chính trị xã hội và việc giải quyết các nối quan hệ trong nội bộ quân đội có thể được tăng cường hoặc bị phai nhạt, thậm chí bị biến chất và tuột khỏi tay nhà nước, giai cấp đã tổ chức ra, nuôi dưỡng quân đội đó. Sự thay đổi bản chất giai cấp của quân đội diễn ra dần dần thông qua việc tăng cường hoặc suy yếu dần các mối quan hệ trên.

Trong tình hình hiện nay, các học giả tư sản thường rêu rao luận điểm “phi chính trị hóa quân đội”, cho quân đội phải đứng ngoài chính trị quân đội là dụng cụ bạo lực của toàn xã hội, không mang bản chất giai cấp. Thực chất quân điểm “phi chính trị hóa quân đội” của các học giả tư sản nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm sức mạnh chiến đấu, từng bước làm thoái hóa về chính trị tư tưởng,

phai nhạt bản chất cách mạng của quân đội. Đó là một mục tiêu quan trọng trong chiến lực “diến biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chế độ đế quốc. Mặt khác, mặt khác của nền kinh tế thị trường tác động không nhỏ tới tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của quân đội. Những biểu hiện cường điệu lợi ích vật chất, lề thói thực dụng, cơ hội và chính trị, sự suy giảm về đạo đức cách mạng là những cản trở trong xây dựng quân đội cách mạng hiện nay.

2.2.1. Sức mạnh chiến đấu của quân đội.

  • Theo quan điểm của Mác – Ăng ghen sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào những yếu tố như: con người, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, vũ khí trang bị, khoa học quân sự, trong xây dựng sức mạnh chiến đấu cho quân đội, các ông rất chú trọng đến khâu đào tạo đội ngũ cán bộ, đánh giá và nhận xét về tài năng của các tướng lĩnh quân sự, đồng thời phê phán sự yếu kém của đội ngũ này.

  • Bảo vệ và phát triển tư tưởng của C. Mác, V.Iênin đã chỉ rõ sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: yếu tố quân số; tổ chức cơ cấu biên chế; yếu tố chính trị – tinh thần kỉ luật; số lượng, chất lượng vũ khí trang bị kĩ thuật; trình độ huấn luyện và thể lực; trình độ khoa học và nghệ thuật quân sự; bản lĩnh lãnh đạo, trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ các cấp. Giữa các yếu tố trên có mối quanhệ biện chứng với nhau. Tuy nhiên, vị trí, vai trò của từng yếu là không ngang bằng nhau, trong những điều kiện xác định, yếu tố chính trị tinh thần giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. V.Iênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” 1.

2.2.1. Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của Lênin.

V. Lênin kế thừa, bảo vệ và phát triển lý luận của C. Mác, Ph. Ăngghen về quân đội và vận dụng thành công trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.

Ngay sau khi Cách Mạng Tháng Mười Nga thành công, các thế lực thù địch điên cuồng chống phá nước Nga Xô Viết. Để bảo vệ thành quả cách mạng, V. Lênin yêu cầu phải giải tán quân đội cũ và thành lập quân đội kiểu mới (Hồng quân) của giai cấp vô sản. V. Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới: Đảng Cộng Sản lãnh đạo Hồng quân tăng cường bản cấp giai cấp công nhân; đoàn kết thống nhất với quân đội nhân dân: trung thành với chủ nghĩa đế quốc vô sản; xây dựng chính quy; không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức; phát triển hài hòa các quân chủng, binh chủng; sẵn sàng chiến đấu. Trong đó sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định đến sức mạnh, sự tồn tại, phát triển, chiến đấu, chiến thắng Hồng quân.

Ngày nay, những nguyên tắc cơ bản về xây dựng quân đội kiểu mới của V. Lênin vẫn giữ nguyên giá trị; là cơ sở lý luận khoa học cho các Đảng Cộng sản xác định phương hướng tổ chức xây dựng quân đội của mình.

2.2. Tư Tưởng Hồ Chí Minh về quân đội.

2.2.2. Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có tính qui luật trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.

1 V. Lênin,Toàn tập. tập 26. Bản tiếng Việt. NXB Tiến bộ, Matsxcơva, 1980, tr. 397.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.